HẠNH PHÚC TRONG TẦM TAY



Vào khoảng thập niên 80, vừa đặt chân đến Sydney, cũng như bao di dân khác, anh chị phải đi làm để trang trải cuộc sống nơi xứ người. Anh là công nhân của xưởng sản xuất đồ gỗ nội thất theo yêu cầu, và chị làm việc tại một hãng may. Lương bổng đủ cho vợ chồng anh thoải mái sớt chia tình thương cùng những mảnh đời bất hạnh.
Sau khi tậu được căn nhà, anh liền trở lại học đường để hoàn thành ước mơ là nhà tâm lý trị liệu, một ngành học mà anh đã ấp ủ khao khát từ lâu, vì anh muốn tìm hiểu về thế giới tâm linh theo cách nhìn của các học giả Tây phương.

Mục tiêu ở mọi nơi

Có một vị thiền sư, một hôm ông gửi thư mời những thân hữu và các thiền sinh đến xem ông biểu diễn về môn thiền bắn cung (zen archery). Hôm ấy là một ngày thật đẹp, ông tổ chức buổi biểu diễn ngoài trời. Tấm bia được đặt ở phía cuối một sân cỏ rộng dài, và phía bên kia là biển. Chuông trống nổi lên, vị thiền sư bước ra sân, ông dừng lại cầu nguyện trước một bàn thờ nhỏ. Ông quay sang cúi chào mọi người, rồi trang trọng mặc vào một chiếc áo lụa màu trắng. Vị thiền sư mở một chiếc hộp đen dài và lấy ra một chiếc cung, bình thản điều chỉnh lại độ căng của dây cung. Sau đó, ông ngồi xuống trong tư thế thiền, để cây cung trên đùi mình, và nhắm mắt lại. Mọi người đều im lặng cùng ngồi thiền với ông.

VẤN ĐẠO Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma

Hỏi: Thế nào là tâm Phật?
Ðáp: Tâm ngươi chính là tâm Phật. Khi ngươi thấy cái bản chất nhất thể của tâm, thì đó gọi là Như Như. Khi ngươi thấy tánh thường hằng không thay đổi của tâm, thì đó gọi là Tam thân Phật (pháp thân, báo thân, hóa thân). Nó chẳng thuộc về gì cả, nên được gọi là Giải thoát. Nó vận dụng dễ dàng và tự do, không bị nhiễu loạn bởi ngoại duyên, nên gọi là Chân Ðạo. Nó chưa bao giờ sinh, nên cũng không bao giờ diệt, đó gọi là Niết Bàn.

NHẠN KHÔNG LƯU BÓNG NƯỚC CHẲNG GIỮ HÌNH

... Phật giáo hình thành từ Ấn Độ cách đây 2600 năm, sau đó phân thành hai nhánh. Một nhánh, do trưởng lão Mahinda, hoàng tử con vua Asoka làm trưởng đoàn, tháp tùng có trưởng lão Iṭṭiya, Uṭṭiya, Sambala, Bhaddasāla, sa-di Sumana cùng với cận sự nam Bhaṇḍuka dong thuyền vượt biển đi truyền giáo ở Srilaṅca vào thời vua Devānaṃpiyatissa. Đấy là sau kỳ kết tập kinh Phật ngôn lần thứ 3, khoảng 216-218 năm sau khi đức Phật nhập diệtBộ phái truyền theo hướng này gọi là Theravāda (Thượng tọa bộ - bộ phái của các vị trưởng lão). Các vị này sợ rằng giáo pháp của đức Phật tại Ấn Độ, trong một thời gian nào đó sẽ bị giáo phái Bà-la-môn hoặc tư tưởng của các hệ phái khác xen lẫn, pha tạp làm mất đi giáo lý uyên nguyên của đức Phật nên truyền Tam Tạng thánh điển ra đảo Srilaṅca (Tam Tạng Pāḷi văn đã hình thành sau lần kết tập thứ 3, còn thời Phật chỉ có Pháp và Luật). Nhánh thứ hai, gồm các vị đại đức trẻ, học thông, hiểu rộng, không muốn bảo thủ, bảo nguyên như các vị trưởng lão, họ muốn thay đổi một số tư tưởng, phát triển thêm tư tưởng, hình thành nên bộ phái Phát Triển có tên Mahāsaṅghika (Đại chúng bộ). Hệ phái này xiển dương xa rộng, đi qua miền Tây Bắc Ấn Độ như PakistanAfghanistanUzbekistan Turkmenistan… ven theo dưới chân Hymalaya qua 36 nước Tây Vực sau đó mới đến Đôn Hoàng. Từ đây, nó tản mác qua Mãn Châu, Tây TạngMông Cổ, Nhật Bổn, Triều TiênTrung Quốc. Cứ thế, nhánh này trở thành tông phái Phật giáo lớn nhất trên thế giới hiện nay.

Tâm Hỷ (Pīti) Hoan hỷ là một yếu tố của Giác ngộ

Giáo pháp không có nghĩa là phải tìm kiếm
MUNINDRA

Mặc dù Đức Phật diễn tả rất rõ ràng về Diệu Đế nhất là sự thật về dukkha (khổ, bất toại nguyện), nhưng những bức họa hay tượng điêu khắc vẫn luôn luôn biểu hiện gương mặt Người với một nụ cười chứ không với nét cau mày. Ngài Munindra cũng nhận biết lời dạy này: Ngài không khi nào phủ nhận sự khổ vì mất mát, già, bệnh, chết trong suốt cuộc đời của mình, nhưng cũng không khi nào tỏ vẻ phiền não hay khắc khổ. Vẻ mặt Ngài trong các ảnh và phim lúc nào cũng tươi cười, rạng rỡ.

Chân lý - Thực tại - Thượng đế

Chân lý

Chân lý là chân lý, một mình, đơn độc; không lề, không lối; không hề có nẻo vào. Chân lý thì chẳng lối để vào, song nó phải đến với bạn. Chân lý chỉ tới được bạn khi trí bạn thật giản dị, trong sáng, và tâm bạn có yêu thương; chứ nó không đến khi tâm bạn chất chứa đầy ký ức. Rồi khi tâm trọn yêu thương, bạn sẽ không nói gì đến kết tạo tình huynh đệ; bạn không nói về đức tin, bạn không nói về sự phân biệt, chia rẽ hoặc những thứ quyền lực tạo nên chia cách, bạn cũng không cần gì theo đuổi sự hòa giải, hòa hợp chi nữa cả. Và bạn là một Người-giản-dị không nhãn mác, chẳng hề có quốc gia. Nghĩa là, bạn phải giải thoát chính bạn ra khỏi tất cả những thứ đó để cho phép sự thật, chân lý đi vào hiện thể; do chân lý chỉ có thể đến khi thức tâm rỗng rang, khi trí óc ngừng tạo tác.

Chân Lý - Sức mạnh chân lý


Satya (Đạo/Chân Lý)


Trong cuốn tự truyện duy nhất của Gandhi mang tên “The Story of My Experiments with Truth” (tạm dịch: Câu chuyện trải nghiệm của tôi về Sự thật) nêu bật phương châm sống của ông: Chân lý chính là Chúa trời. 
Gandhi đặt ngang hàng Satya (Đạo) với Đức Chúa Trời. Ngài nói rằng “Chân lý là Đức Chúa Trời của ta. Bất bạo động là phương tiện để đạt được ngài.” [1, 174] Gandhi giới thiệu cuốn tự truyện của mình bằng “ta chỉ muốn kể lại câu chuyện về những trải nghiệm của đời mình với chân lý, vì cuộc sống này của ta không có gì khác hơn ngoài những trải nghiệm đó.” Với việc theo đuổi Chân lý như là “mục đích duy nhất”,

TẠO MỘT NỀN TẢNG TỐT CHO THIỀN QUÁN


Nhiều người cứ nghĩ rằng chỉ cần thêm một chút thiền quán vào trong thời khoá sinh hoạt hàng ngày của mình thì những tác dụng tốt đẹp của thiền định sẽ tràn ngập toàn thể cuộc sống của họ mà chẳng cần phải làm thêm bất kỳ việc gì khác. Chỉ cần đưa thêm thiền quán vào cái hỗn hợp đời sống của ta thì điều đó sẽ thay đổi tất cả những hợp phần khác - đó là điều chúng tathường nghĩ; nhưng thực sự thiền quán không tác động theo lối đó. Chúng ta phải làm cho đời sống của mình trở thành một nơi thích hợp để thiền quán thấm vào, vì lẽ một số hành động và trạng thái tâm thức của ta thực sự chống lại việc tiếp nhận bất kỳ ảnh hưởng nào của thiền quán.

Kính Viếng Tổ Đạt Ma - Bồ Đề Đạt Ma Và Giá Trị Siêu Việt Của Nền Thiền Học Việt Nam

Kính Viếng Tổ Đạt Ma

Vai đã mỏi, gót đã mòn nẻo quạnh 
Ta già đi, với từng bước trên đường
Tìm thấy gì, ngoài một vầng trăng lạnh

SÁNG TẠO - CÁCH NGHE PHÁP - THOÁT KHỎI NGŨ UẨN (THÂN KIẾN) - HỮU THỨC HÓA VÔ THỨC


SÁNG TẠO

Hỏi: Thưa Thầy, có người nói phút giây sáng tạo là trở về chính mình và người sáng tạo trong sự tỉnh thức đó cũng chính là Thượng Đế. Xin Thầy hoan hỷ giải thích, con xin thành kính tri ân Thầy!


- Khi trở về trọn vẹn với chính mình (thực tại thân thọ tâm pháp) tức trọn vẹn với Pháp. Pháp luôn mới mẻ nên khi sống thuận Pháp chính là sống sáng tạo. Sống hoàn toàn trọn vẹn với Pháp, vô vi, vô ngã gọi là Như Lai. Như Lai chính là Người Sáng Tạo mà Thiên Chúa giáo gọi là Thượng Đế. Sáng tạo không phải là sáng chế điều gì khác lạ với thiên nhiên do lý trí, do tưởng tượng của bản ngã chế tác, mà đó là sống trọn vẹn với sự vận hành luôn mới mẻ của Pháp.

Tu - Tham Thiền

Tu cùng không tu

Giảng về việc tu hành hay không tu hành, đều là lời trống không. Chúng ta nếu hiểu rõ thấu triệt chính mình có một phần tâm quang, ngay khi ấy biết rõ việc vô sự, thì sao lại bàn về tu cùng chẳng tu. Phật Thích Ca xuất gia tầm đạo, sáu năm tu khổ hạnh, bốn mươi chín ngày đêm ngồi dưới cội Bồ Đề, đến đêm cuối cùng ngắm vì sao chớp, liền ngộ đạo, nói kệ:
- Lạ lùng thay ! Lạ lùng thay ! Chúng sanh trên cõi đất đều có đầy đủ đức tướng trí huệ của Như Lai. Chỉ vì vọng tưởng chấp trước, nên không thể chứng đạo.

Sáng tạo – Bừng cháy sức mạnh bên trong

Bất kể bạn làm gì, chỉ cần bạn thực hiện một cách vui vẻ, đầy yêu thương và không nhằm mục đích kinh tế thì nó sẽ có tính sáng tạo, ngay cả việc nhỏ bé cũng trở nên vĩ đại.
Sáng tạo có nghĩa là yêu những gì bạn làm, là tận hưởng, là chào đón nó! Có thể chẳng ai biết điều đó, bởi ai lại đi ca ngợi người đã lau sàn? Lịch sử chẳng ghi nhận, báo chí cũng chẳng nêu tên hay đăng hình bạn vì những việc làm như thế. Nhưng chẳng sao hết! Giá trị nằm ngay trong chính công việc.

Tôi không tìm an lạc nữa

Sáng thứ hai, tôi hứa sẽ không tìm an lạc nữa
Cứ để lá bay, mây trôi, hoa rụng giữa bốn mùa
Nắng thì ấm, trời sẽ lạnh những ngày mưa
Bụi có vướng cũng không cần xoa phủi
Cứ nhìn và cảm nhận thôi,
mà chẳng mong chờ gì khác, như những ngày xưa

Mỗi Moment of Life của bạn hàng ngày là Thiền



Mỗi khoảnh khắc của cuộc sống của bạn là thực hành của bạn, nếu bạn muốn nhìn vào nó theo cách đó. Bạn có thể gọi nó là con đường của tantra; bạn có thể gọi nó là bất cứ điều gì bạn muốn. Nó không có vấn đề gì từ bạn sử dụng. Chỉ cần nắm bắt ý tưởng này:
Mỗi khoảnh khắc của cuộc sống là thiền định của bạn.

Có bao nhiêu cái tuệ?


Con không cần biết có bao nhiêu cái tuệ, cứ trở về trọn vẹn tỉnh thức với thân thọ tâm pháp con sẽ thấy tất cả với một sự khám phá đầy ngạc nhiên và mới mẻ. Tất cả chân lý đều có sẵn trong con, hãy thấy như nó đang là, đừng tìm kiếm mà hoá thành ảo tưởng.

Không thêm không bớt sống hồn nhiên
Tánh giác dung thông mọi não phiền
Tâm vốn sáng trong luôn tịch chiếu
Pháp thường thanh tịnh mãi uyên nguyên.


SÁNG TẠO PHÁT XUẤT TỪ THIỀN


Krishanmurti:
 Ở đây có mười lăm câu hỏi – câu hỏi nào nên đọc trước? Chúng ta có nên đọc câu hỏi đầu tiên hay không? “Thiền là gì và nó liên hệ với sự sáng tạo như thế nào?” Chúng ta có thể trả lời câu hỏi đầu tiên này hay không?

Ngộ Nhập bao sâu?

P: Thưa ngài, ta có thể ngộ nhập bao sâu?
K: Chúng ta có thể đặt câu hỏi như vầy hay không? Đa số chúng ta có một đời sống cực kỳ nông cạn và có thể sống với chiều sâu thăm thẳm và cũng có thể sinh hoạt bề mặt hay không? Tôi không chắc chắn là tất cả chúng ta đang cùng truy vấn cùng một sự việc. Chúng ta hướng đến một cuộc sống hời hợt và hầu hết chúng ta thỏa nguyện với hiện tượng đó.
  
P: Chúng tôi không thỏa mãn. Nhưng chúng ta không biết cách an trú thâm sâu

THIỀN QUÁN VỀ CÁI CHẾT VÀ VÔ THƯỜNG

Thiền quán vô thường làm cho tâm ta và pháp hòa lẫn nhau. Nếu không quán vô thường và phát sinh tuệ giác về vô thường, thì tâm ta và pháp sẽ không bao giờ lại gần nhau. Ta có thể hiểu vô thường trên bình diện trí thức, nhưng nếu không thiền quán về vô thường thì cho dù ta có tiếp nhận thêm giáo lý khác, tâm và pháp của ta vẫn không sẵn sàng hòa hợp. Nếu xét kỹ, ta sẽ thấy rằng vô thường là phương pháp tốt nhất để chuyển hóa tâm ta thành pháp thuần túy.