Giá Trị Hạnh Phúc Qua Đại Kinh Ví Dụ Lõi Cây

Từ khi còn là một Thái tử cho đến khi thành tựu đạo Vô thượng Bồ đề, đức Phật đã trải qua đủ mọi lạc thú ở thế gian, kể cả những lạc thú cao cấp trong Thiền định như Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Nhưng tất cả những lạc thú đó cuối cùng để lại cho Ngài một ưu tư lớn về tính chất vô thường, và không thể nào tìm thấy hạnh phúc chân thật trong các lạc thú đó. Và thật sự có một hạnh phúc chân thật không bị quy luật vô thường chi phối được, Ngài tìm thấy ngay sau khi giác ngộ, đó là Giải thoát bất động. Nhờ kinh nghiệm tự thân và kinh nghiệm chứng ngộ ấy, đức Phật đã trình bày năm hạng người điển hình đang tìm cầu hạnh phúc qua “Đại kinh Ví dụ lõi cây”.

Xử lý cơ thể sau khi chết

1. Hôm trước Thầy nói về Xá lợi của người thường và Thánh. Nếu ý nghĩa không lớn như vậy việc lưu giữ có ý gì không? Ngay cả nhục thể của những vị cao tăng ?

Giữ xá lợi và tro cốt tùy quan niệm của mỗi nơi. ví dụ người theo đạo Hindu Ấn độ tin rằng để linh hồn người chết được lên thiên đàng, do đó người thân đưa xác đến bên sông Hằng và tiến hành nghi lễ hoả táng.

Hiến xác có phải Bố thí Ba-la-mật?


1. Hiến xác có phải Bố thí Ba-la-mật? Có người nói hiến như vậy khi chết rồi tâm thức thấy thân mình bị mổ xẻ sinh ra đau khổ, sợ hãi, có đúng không?

- Cứ bố thí thì bố thí, đừng nghĩ là Ba-la-mật hay không Ba-la-mật gì cả. Mục đích bố thí là để vượt qua cái ngã xan tham ích kỷ, vượt qua bản ngã chính là Ba-la-mật. Vì xan tham ích kỷ chỉ củng cố cho cái ngã sở hữu nên càng tích luỹ nhiều càng đau khổ nhiều vì vậy bố thí để bớt xan tham ích kỷ chính là vượt qua chính mình. Nói chung có tâm hiến xác sau khi chết là tốt rồi. Thường người phát tâm hiến xác là người có trình độ nhận thức tốt về sự sống chết.

Không đích đến

Bởi mỗi khoảnh khắc, là đây. Đó có thể là sự sống, có thể là cái chết, có thể thành công, cũng có thể là thất bại, có thể hạnh phúc lại cũng có thể là bất hạnh. Mỗi khoảnh khắc… đều là đây.

TỈNH THỨC VÀ HIỂU BIẾT

Trong bài kinh Kalama nổi tiếng, thường được nhắc đến, Đức Phật đã đề ra mười điều mà ta không nên dựa vào để chọn người thầy hay để đi theo con đường tâm-linh nào đó. Tất cả đều có liên quan đến một hệ thống niềm-tin dựa vào truyền thống hay vào các cổ thư. Không tin, nhưng ta phải tự tìm ra sự-thật là điều Đức Phật thường nhấn mạnh. Nếu không làm thế, ta sẽ khó có được cái thấy nội-tại, là bước đầu tiên đưa ta đến con đường đạo.

Thập mục ngưu đồ - Vị ngọt và sự nguy hại


1. Thập mục ngưu đồ

(Hỏi) Thập mục ngưu đồ, có trong kinh điển Nguyên Thủy không?Xin Thầy giảng dạy Thập mục ngưu đồ liên hệ trong tu tập.


- Thập mục ngưu đồ là để diễn tả tiến trình tu tập theo Thiền Tông. Có 2 loại Thập mục ngưu đồ: Thập mục ngưu đồ của Thiền Tông và Thập mục ngưu đồ của Đại Thừa.
Bên Nguyên Thủy không có Thập mục ngưu đồ. Thập mục ngưu đồ đại khái ví việc tu tập như việc chăn trâu qua quá trình như sau:



Tiếng Vọng Từ Chân Tâm



Ngài Ðại Ðức Acharn Mun dạy rằng tâm của tất cả mọi người đều có ngôn ngữ giống nhau. Dầu ta nói tiếng gì, dầu ta là người thuộc dân tộc nào, tâm chỉ là sự hay biết (lời người dịch: chữ tâm được phiên dịch từ phạn ngữ "citta". Bản Chú giải định nghĩa là cái gì hay biết một đối tượng). Vì lẽ ấy Ngài nói rằng tất cả tâm đều có ngôn ngữ giống nhau. Khi một ý nghĩ phát sanh, chúng ta hiểu nó, nhưng khi chúng ta diễn đạt ra thành lời, nó trở thành ngôn ngữ này hay ngôn ngữ nọ. Do đó chúng ta không thật sự thông hiểu lẫn nhau. Mặc dầu vậy, những cảm giác sâu kín trong lòng mỗi người đều như nhau.

“Tọa Vong” trong học thuyết của Trang Tử - An trú Tánh Không


1. “Tọa Vong” trong học thuyết của Trang Tử

(Hỏi): Trong Thiên Đại Tông Sư của Trang Tử Nam Hoa Kinh có nói: Giải thể, bỏ thông minh, lìa hình, bỏ trí, đồng với Đạo lớn, đó gọi là "tọa vong” (ngồi quên tất cả) có phải như thế nghe có vẻ trái với chánh niệm tỉnh giác?

- “Tọa Vong” như thế nếu hiểu đúng nghĩa theo đạo Phật thì gọi là "an trú Tánh Không" mà đức Phật đã dạy.

Người xiển dương Phật Pháp là người biết đọc quyển sách tâm mình

1/ Tà định và chánh định

(Hỏi) Tà định là khi định có mục đích bất thiện. Nhưng trong lúc hành thiền không có bất cứ ý niệm bất thiện nào thì mới vào định được. Chỉ cần có 1 tâm sở bất thiện không thể nào vào định được. Vậy tà định và chánh định khác nhau chỗ nào?


- Tà định thường được hiểu theo nghĩa có động cơ và mục đích xấu, nhưng tà định nói chung chỉ có nghĩa là không phải chánh định thôi. Vì vậy, nên nói “không phải chánh định” chính xác hơn là nói tà định chung chung.

Thực phẩm cho Tâm

Trong cuộc sống chúng ta có hai khả năng: hoặc là chìm đắm trong lạc thú trần gian hoặc vượt qua nó. Đức Phật là người đã vượt thoát ra khỏi lạc thú trần gian và đạt được sự tự do tự tại.
Cũng như thế, có hai loại hiểu biết – hiểu biết về cõi trần gian và hiểu biết về tâm linh hay giác ngộ thật sự. Nếu chúng ta chưa tu tập và rèn luyện, thì dù kiến thức của chúng ta có cao siêu đến đâu, nó vẫn mang tính chất trần thế và không giúp giải thoát chúng ta được.

Đừng hiểu lầm lời Phật dạy - Quả Dự Lưu

1. Đừng hiểu lầm lời Phật dạy

(Hỏi) Trong nhiều bản kinh Đức Phật khuyến khích hành giả ngồi thiền, nên hiểu như thế nào?

Thời Đức Phật chưa ra đời, ngoại đạo xem thiền định là tối cao nên họ cho rằng vào rừng tu là mục đích tối thượng, nếu không ngồi thiền định bị thiên hạ cho là không tu hành gì cả. Khi Phật giác ngộ, thấy ra thiền định, khổ hạnh không đưa đến giác ngộ giải thoát, nhưng thời đó người Ấn thích như vậy, nên Ngài vẫn duy trì thiền định như một hình thức hiện tại lạc trú mà thôi. Thật ra đó mới chỉ là tu ngoài da, chưa giác ngộ thì vẫn còn ở ngoài da, chưa thấy được cốt lõi của Đạo.

Thực hành thuận pháp

Khi chúng ta bắt đầu sử dụng sự tĩnh lặng và bình an đã phát triển trong quá trình thiền tập để quán chiếu những đối tượng đó, thì trí tuệ sẽ sanh khởi. Đó là cái tôi gọi là trí tuệ. Đó là thiền vipassāna. Nó không phải là thứ có thể giả mạo. Nếu chúng ta có trí, thiền vipassāna sẽ phát triển một cách tự nhiên. Chúng ta không phải đặt tên cho những gì đang diễn ra. Nếu chỉ có một chút tuệ giác rõ ràng, chúng ta gọi là “một ít thiềnvipassāna”. Khi tuệ giác rõ ràng lớn hơn một chút, ta gọi là “vipassāna vừa phải”. Nếu hiểu biết hoàn toàn theo sự thật, chúng ta gọi là “vipassāna tối hậu”. Cá nhân tôi thích sử dụng từ trí tuệ (paññā) hơn là vipassāna.

Những chướng ngại đối với thiền tập - Ba phương pháp đối trị

Cả thế giới xung quanh và thế giới trong tâm chúng ta đều chứa đầy những xung lực chống đối và thù địch, gây ra đau khổ và phiền não cho chúng ta. Từ những kinh nghiệm đau đớn của chính bản thân mình, chúng ta biết rằng mình không đủ mạnh mẽ để đối diện và chinh phục tất cả những xung lực thù địch trong một trận chiến công khai. Ở thế giới bên ngoài, chúng ta chẳng bao giờ có được mọi thứ y như mình mong muốn, trong khi ở thế giới bên trong, các tình cảm, xung động cảm xúc và những ý thích bất chợt thường đẩy qua một bên những yêu cầu của phận sự, trách nhiệm, lý lẽ và những khát vọng cao hơn của chúng ta.

Chứng Đạo Ca - Chánh Định

1. Chứng Đạo Ca

Quân bất kiến:

Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân
Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân
Vô minh thật tánh tức Phật tánh
Huy
ễn hóa không thân tức Pháp thân
Pháp thân giác liễu vô nhất vật
Bản nguyên tự tánh thiên chân Phật
Ngũ uẩn phù hư không khứ lai
Tam độc thủy bào hư xuất một

TRÍ THÔNG MINH – TRÍ TUỆ

Thiền sinh: Con đang cố gắng để chánh niệm trên bất cứ những gì đang diễn ra. Thầy đã dạy chúng con là phải chánh niệm một cách thông minh. Xin thầy giảng kỹ hơn cho con một chút về vấn đề này ạ.

Thiền sư: Miễn là tâm bạn giữ được trạng thái quân bình, buông xả thì tất cả những việc bạn cần phải làm chỉ là để tâm mình rộng mở và thu nhận (tất cả những gì đang đến, đang diễn ra). Bất cứ cái gì đến, bạn phải tư duy về nó một cách trí tuệ (như lý tác ý). Là một thiền sinh hành thiền Vipassanā, trước hết bạn phải biết chấp nhận bất cứ điều gì đang diễn ra.

Đừng hiểu lầm Khổ Đế

Có 3 loại khổ:

1. Khổ tự nhiên:


Khổ tự nhiên như đói quá, no quá, nóng quá, lạnh quá v.v… thì ai sinh ra trên đời, từ Phật đến chúng sanh đều phải có. Khổ này cực kỳ quý giá, là món quà tạo hóa tặng cho mỗi người, nếu không có khổ này thì trở thành cục đá (không có cảm giác biết nóng lạnh v.v...). Cái khổ này là tự nhiên và cần thiết như bản năng sinh tồn trong đời sống giúp chúng ta biết rõ mức nguy hiểm đến mạng sóng để tránh. Biết sống tức là biết trân quí giá trị của cái khổ này của cuộc đời.

Thấy Pháp - Không Tánh

Thấy Pháp 

"Giản dị mới uyên thâm", chính là câu mà Đức Phật dạy ông Bàhiya:


Trong thấy (của mắt) chỉ là thấy.
Trong nghe (của tai) chỉ là nghe.
Trong xúc (của mũi, lưỡi, thân) chỉ là xúc
Trong biết (của ý) chỉ là biết... không có cái ta Bāhiya nào ở đó.

Vừa nghe xong lập tức Bāhiya thấy ra cái “ta” chỉ là ảo tưởng, trong thấy biết của căn môn đối với trần cảnh chỉ có tánh biết đang biết pháp vận hành mà thôi, và ngay đó Bāhiya đã hoàn toàn giác ngộ giải thoát.

Hiểu rõ chính mình - Krishnamurti

Hiểu biết sáng tỏ bản chất chân thật của mọi hiện tượng sẽ mở toang cánh cửa hạnh phúc, đó cũng là tột đỉnh của tôn giáo – là chân lý; nhưng muốn nhận ra chân lý này, chúng ta phải chú ý đúng đắn, đơn thuần vào nó, như sự tự diễn tả của tự thân vẻ đẹp và hân hoan, mà không thể được đo lường hay dựa vào bất cứ ý niệm nào.
Ánh sáng của sự thật và ân phước của nó sẽ bị hủy diệt, khi cái trí trở thành là nơi trú ngụ của “cái tôi” – bản ngã. Hiểu rõ chính mình là khởi đầu của tuệ tri ; nếu như không thể hiểu rõ về chính mình, mọi học hỏi đều dẫn đến những mâu thuẩn, tranh chấp và đau khổ.

Tri Kiến Như Thật

Lời dạy của Ðức Phật không hề mang ý nghĩa đem lại cho chúng ta một thứ cảm giác sống "thưởng thức" nào cả, mà là nhắm đến khả năng hiểu biết như thật về bản chất của chính từng cảm nghiệm. Giáo lý của Ðức Phật mang một tinh thần chủ đạo là dạy ta khám phá tất cả ý nghĩa cái gọi là sự hiện hữu. Chúng ta sống thiền định là vứt bỏ đi những ảo vọng thành kiến, chận đứng cái căn cội đau khổ của kiếp người và thấu suốt được bản chất của vạn hữu. Ðây chính là một hướng đời độc lập...Chúng ta chỉ đơn giản sống trong sự tỉnh thức về hơi thở: Ðơn giản biết mình qua từng hơi thở vào ra, sống thật trọn vẹn với chúng. Nhưng chúng ta làm vậy để làm gì nào? Tôi nghĩ rằng mọi người ở đây rồi cũng sẽ có thể tự trả lời cho mình câu hỏi đó. Một khi tâm hồn đã trở nên yên lặng, khả năng chú niệm đã vững vàng hơn, đời sống của chúng ta lúc này sẽ là từng giây phút tỉnh thức và hết mình với tất cả những gì đang xảy ra...

KHAI THỊ CỦA THIỀN SƯ DOZEN (ĐẠO NGUYÊN).

Đạo Nguyên bắt đầu như sau trong bản văn nền tảng về thiền: “Đạo vốn hoàn hảo và hiện hữu khắp nơi, làm sao có thể phụ thuộc vào những thực hành hay chứng ngộ? Thừa pháp thì tự do và vô ngại, cần gì nỗ lực tập trung!?. Thật vậy, toàn thân vốn lìa hẳn bụi bặm thế gian, ai có thể tin vào một phương tiện chùi sạch nó? Đạo không hề rời khỏi con người, nó ở ngay chỗ người ta hiện hữu, rời đây hay kia để thực hành thì nào đâu có ích gì” ?
Đời sống này, vốn đã tốt đẹp theo cách của nó. Mọi sự xảy ra là một biểu lộ của “giác ngộ bổn nguyên” cho dù ta có biết điều đó hay không. Chúng ta không cần có một điều kiện nào khác, không cần tăng thêm hay giảm bớt cái gì. Cơn mưa của Pháp rơi mỗi lúc, đều đặn và tự do trên mọi sự; mỗi sự vật nhận mưa và dùng nó theo cách riêng của nó.

THIỀN ZEN - TRI KIẾN PHI KIẾN

Thiền không có bắt đầu và kết thúc....khi chưa tỏ ngộ, chưa nhận ra bản tính tịch nhiên vắng lặng chiếu soi nơi mình, thì chưa thật sự tham thiền, chưa biết thiền là gì và vẫn còn đứng ngoài ngưỡng cửa thiền. Mọi hành vi tạo tác của chúng ta dù có tinh vi khôn khéo đến đâu, thì cũng chỉ là sự cân nhắc tính toán dọ dẫm của ý thức mà thôi, nên không thể tránh khỏi vụng về dại dột lầm lẫn và đưa đến xung đột. Khi tỏ ngộ được tâm thái tự do, an nghỉ tuyệt đối của tự tâm, thì khi ấy cuộc sống mới tràn đầy ý nghĩa, và mọi động thái luôn được soi sáng. Một tầm nhìn mới về nhân sinh và vũ trụ được mở ra; thấy cõi đời không là biển khổ nữa, mà là một bức họa lung linh mầu nhiệm, một bản hợp tấu tuyệt vời. Chúng ta không nhìn đời bằng ánh mắt hoang vu, mà bằng đôi mắt bình đẳng và tràn đầy yêu thương chân thật.

Cái nhìn của Thiền về nền giáo dục hiện đại



...Ngài Lâm Tế (viên tịch năm 866), một trong những Thiền sư nổi bật vào thời Đường có lời khuyên về một sự giáo dục lý tưởng như sau. Ngài nói: “Người học không để ý đến lỗi lầm của kẻ khác; người đó tha thiết tìm cầu kiến giải bên trong. Khi hoàn toàn rõ ràng về kiến giải chân thật, thế là xong việc”. Điều ngài Lâm Tế dạy là người học phải không chỉ trích những điều kiện ngoài đời, cũng không phê bình những khuyết điểm của người khác. Ngài Lâm Tế miêu tả một cách rõ ràng như thế của Thiền trong việc giáo dục. Rèn luyện có nghĩa là tìm kiếm cái thấy chân thật không phân biệt giữa thất bại và thành công, giàu và nghèo, đúng và sai. Do đó trong Thiền, chữ giáo dục nên được hiểu là tìm kiếm Tâm không phân biệt.

Bài Kinh trân quý - Kinh Ðại Niệm xứ (Mahàsatipatthana sutta)


"Đại Niệm Xứ " lời vàng chư Phật dạy
"Con đường duy nhất " tìm ngọc minh châu
Vạn triệu lần chưa tạ đủ ân sâu
Đảnh Lễ Ngài, Đấng Tối Cao Từ Phụ.

Bản lai diện mục của tâm


“Bây giờ ta sẽ khai thị cho con về bản lai diện mục của tâm”. Cầm cái chuông và trống tay nhỏ lên, thầy triệu thỉnh tất cả những bậc thầy trong hệ truyền thừa, từ Phật nguyên thủy trở xuống đến bậc thầy của chính thầy tôi. Rồi thầy bắt đầu khai thị. Bốc chốc thầy ném vào tôi một câu hỏi không thể trả lời: Tâm là gì?
Vì bị nhốt kín trong cái lồng hạn hẹp tối tăm của bản ngã mà ta cho là cả vũ trụ, rất ít người trong chúng ta khởi sự ngay cả tưởng đến một chiều không gian khác của thực tại.

NGÔN NGỮ THIỀN

“Ngôn ngữ thiền” là một thứ ngữ ngôn mà ta sẽ không bao giờ tìm thấy một định nghĩa, một qui cách, hay có thể đóng khung nó trong thế giới tỷ lượng. Nó luôn vượt lên trên, nằm ngoài mọi nắm bắt, vang vang nơi vô tận, nó không nằm trong kho tàng luận thuyết của tâm thức.
Thông thường, ta chạy theo ngôn ngữ, sống với ngôn ngữ, với những niềm tin, cảm xúc tùy hứng theo kẻ khác, do vì không làm chủ được chính mình, nên ta thường xuyên lo sợ bất an, và như thế ta sẽ đau khổ.