CUỘC ĐỜI LÀ MỘT TRƯỜNG HỌC


Mục đích của kiếp sống làm người là để có được trí tuệ.
Tinh tuý của cuộc đời là trí tuệ.
Loại trí tuệ quan trọng bậc nhất là trí tuệ giải thoát.


Giáo Dục

Nếu nhà giáo dục quan tâm đến sự tự do cá nhân, và không có sẵn những thành kiến, thì ông ta sẽ giúp cho đứa trẻ tự khám phá ra cái tự do đó bằng cách khuyến khích nó hiểu được môi trường sống, cá tính, tôn giáo và hoàn cảnh xuất thân của gia đình nó, với tất cả những ảnh hưởng đã có thể thâm nhập vào nó.
Nếu trong trái tim của các bậc thầy đầy ắp tình thương yêu và lòng ham chuộng tự do thì, bằng sự sáng suốt, tỉnh táo, họ sẽ giúp từng đứa học trò điều nó cần và giúp nó giải quyết những khó khăn; như thế có nghĩa là họ sẽ không chỉ hành động như điều khiển những cái máy theo phương pháp và công thức, mà tạo cơ hội cho học sinh của họ, là những con người, được tự phát triển khả năng, với sự cảnh giác và giám sát.

Sự sống vẫn đang có mặt

... Chúng ta chỉ có mỗi giây phút này thôi, dầu có vội vã đến đâu bạn cũng không thể nào sống trong hai giây phút cùng một lần được.
Trong những giây phút dừng lại, và có mặt với hiện tại, những dự án tương lai của ta có thể bị chậm bớt hay trì hoản đi, nhưng bạn biết không, điều mà ta có thể sẽ tìm lại được trong giây phút ấy là cuộc đời của chính mình. Và dù ta có hoàn tất được gì hay không, sự sống nhiệm mầu, con đường hạnh phúc, vẫn đang hiện hữu ở bất cứ nơi nào mình thật sự trọn vẹn có mặt...

Công án Thiền: chó có phật tính không?

Thiền có một phương pháp đặc biệt cho cách thiền. Họ gọi nó là 'công án'. Công án là câu đố. Nhưng nó không giống như câu đố thường. Nó là câu đố mà không thể giải được. Câu đố bình thường có thể được giải, chúng được ngụ ý để được giải. Chúng có thể khó, nhưng chúng không phải là không thể được. Công án là câu đố không thể được. Bạn không thể giải được nó; không có cách nào để giải nó.
Chẳng hạn, đây là một công án Thiền: tiếng vỗ tay của một bàn tay là gì? Nếu bạn dùng hai bàn tay âm thanh được tạo ra, nhưng nếu bạn dùng chỉ một bàn tay, âm thanh được tạo ra là gì?

SỐNG TRONG THẾ GIAN VỚI PHẬT PHÁP

Hầu hết mọi người vẫn không biết bản chất của thiền tập. Họ nghĩ rằng chỉ có thiền đi, thiền ngồi và nghe pháp là sự thực hành. Điều này đúng, nhưng đây chỉ là hình thức thực tập bên ngoài. Việc thực hành thực sự diễn ra khi tâm tiếp xúc với một đối tượng tri giác. Đó là nơi để tu tập, là khi sự tiếp xúc với tri giác xảy ra.
Lúc mọi người nói những điều mà chúng takhông thích bèn có sự giận dữ, nếu họ nói những điều mà chúng ta thích thú thì chúng ta phát khởi niềm vui. Ngay đây là nơi để tu tập. Chúng ta sẽ tu tập như thế nào với những điều này? Đây là điểm rất quan trọng. Nếu cả đời chúng ta chỉ chạy lòng vòng để đuổi theo hạnh phúc và tránh xa đau khổ thì dù chúng ta có thể thực hành cho đến ngày chúng ta nhắm mắt xuôi tay cũng không bao giờ thấy được Phât Pháp.

Thư mời tham dự Pháp thoại tại Perth - Australia

Kính thưa quý đạo hữu,

Cách đây 3 năm, nhóm Thuận Pháp tại Perth có kính thỉnh mời Hòa Thượng Thiền Sư Viên Minh đến Perth 2 tuần để hướng dẫn Phật tử thông hiểu về Pháp Thiền Tứ Niệm Xứ và đã được Thầy hứa khả.

LỜI KHUYÊN CHUẨN BỊ CHO PHÚT LÂM CHUNG AJAHN CHAH

Hôm nay tôi không mang đến cho bạn bất kỳ một món quà gì về mặt vật chất, mà tôi sẽ tặng bạn món quà Pháp bảo, những lời dạy của Đức Phật. Hãy nghe cho kỹ đây, bạn của tôi. Bạn nên hiểu rằng ngay cả đối với Đức Phật, Đấng đã tích lũy công đức và phước báu trong vô lượng kiếp cũng không thể tránh được cái chết về mặt thể xác. Khi đến tuổi già, Ngài đã từ bỏ thân xác của mình như buông bỏ một gánh nặng. Giờ đây, bạn cũng phải học để hài lòng với ngần ấy năm bạn đã chung sống với thân xác này. Bạn nên cảm thấy rằng như vậy là đã đủ.

THÁI ĐỘ TÂM LINH CỦA ĐẠO PHẬT

...Nơi diễn đàn hôm nay, chúng tôi sẽ cố gắng trình bày vài ba điểm cần thiết để đánh tan những ngộ nhận có thể có được của người xa lạ với tư tưởng chính yếu của đạo Phật. Trước hết, chúng tôi xin vào đề ngay rằng đạo Phật không phải là một tôn giáo, dù nghĩa “tôn giáo” hiểu theo truyền thống Tây phương hay Đông phương. Nói đến “tôn giáo” là nói đến “tín ngưỡng”, “giáo hội”, “giáo quyền”, “thần quyền”, “thần khải”, v.v... Đạo phật gồm có đủ những điều vừa kể, nhưng điều quan trọng nhất là tất cả chúng ta cần phải lưu tâm: Những điều vừa kể không làm đạo phật trở thành đạo phật, mà chỉ là những hình thức tất yếu xuất phát từ sự thoái hóa tinh thần của những người tự nhận là theo đạo Phật. Đạo phật không phải là “tôn giáo” mà cũng không phải là “triết lý” hay “triết học”...

HT. Thích Minh Châu nói chuyện tại
Viện Đại Học Vạn Hạnh ngày 6/4/1967

Nơi ấy là đây

Không biết trời bên ấy tháng này ra sao, vùng tôi ở trời đang vào thu lộng gió và mưa nhiều. Mấy hôm nay, buổi chiều thường có những cơn mưa kéo ngang qua đây. Có những ngày nắng với một bầu trời lồng lộng gió. Trên con đường nhỏ rừng cây xôn xao, rộn ràng tiếng lá, những mầu sắc tung bay trong không trung. Ngày mưa làm sáng thêm lên những tờ lá đủ màu dưới ánh nắng trong. Buổi sáng có tiếng chim hót, có ánh nắng ấm mặt trời tan sương mù ngoài cửa sổ.

TÔI VẪN BIẾT


Tôi vẫn biết vào ngày trời không nắng 
Bầu trời buồn mây xám phủ che vương
ĐẠO hay ĐỜI luôn ôm ấp tình thương 
Lòng bạn XÁM đừng hỏi " người xa vắng"

Bạn có thể thiền định sâu đến mức nào? Bước đến tỉnh thức

Cốt tủy của đạo Phật là sự giác ngộ của Đức Phật. Cách đây nhiều thế kỷ tại Ấn Độ, tu sĩ du phương Gotama nhớ lại một kinh nghiệm jhana (định) từ thời còn thơ ấu, một trạng thái yên tĩnh sâu lắng, và chợt nhận ra rằng jhana là con đường dẫn đến tỉnh thức. Ngài đi đến một khu rừng yên tĩnh bên bờ một con sông lớn, ngồi xuống trên một chiếc đệm làm bằng cỏ dưới một gốc cây to, có bóng mát và tọa thiền.

Đôi lời dạy cuối cùng của Thiền Sư Ajahn Chah

Trong mỗi gia đình và mỗi cộng đồng, cho dẫu chúng ta sống trong thành phố hay ở thôn quê, trong rừng hay trên núi, chúng ta đều trải nghiệm hạnh phúc và đau khổ như nhau, nhưng đa phần chúng ta đều thiếu một nơi ẩn náu - một cánh đồng hay một ngôi vườn- nơi chúng ta có thể trau giồi những phẩm chất tích cực của tâm.
Chúng ta không hiểu rõ mục đích của cuộc sống này là gì và chúng ta nên làm những gì. Từ lúc bé thơ cho đến khi thành niên và rồi trưởng thành, chúng ta học để tìm sự giải khuây và tìm vui trong dục lạc, và chúng ta không bao giờ nghĩ rằng các mối nguy hiểm đang luôn rình rập chúng ta khi chúng ta bắt tay vào việc xây dựng cuộc sống, lập gia đình và v.v…

Thông Báo tham dự PHÁP THOẠI của Thiền Sư Viên Minh tại Úc


Thư mời tham dự Pháp thoại và khóa tu học
THIỀN TỨ NIỆM XỨ
với sự hướng dẫn của Hòa Thượng Thiền Sư Viên Minh

Quá trình tu chứng đạo quả của bậc giác ngộ

1. Xin Thầy cho con biết biểu hiện gì của người tu gọi là chứng đạo quả ? 

Theo theo mô tả tiến trình tâm của các bậc Thánh từ Tu-đà-hoàn đến A-la-hán thì đạo là tuệ giác thấy rõ 2 đối tượng: Một là sự trói buộc (kiết sử) nào đang chấm dứt. Hai là liền ngay đó thấy rõ Niết-bàn. Như vị Tu-đà-hoàn thấy thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ diệt đi và đồng thời cũng thấy ra Niết-bàn. Còn bậc A-la-hán thấy ra Niết-bàn khi không còn kiết sử nào nữa, chấm dứt mọi phiền não.

Niết-bàn - Trạng thái

1. Niết-bàn

(Hỏi) Thưa Thầy Niết-bàn hay cảnh giới vô sanh của A La Hán và của Đức Phật toàn giác có khác nhau không ạ?


- Niết-bàn, Vô sanh không có cảnh giới. Cái gì có cảnh giới thì cái đó có sinh diệt: "Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng" Cái gì có tướng thì đều không thật hữu, vì chúng thường sinh diệt, cho nên Vô Sanh, Niết-bàn không phải là cảnh giới. Nhưng Niết-bàn không có cảnh giới không có nghĩa là không ở đâu hết mà là ở đâu cũng được, không có nơi cố định nào. Người giác ngộ Niết-bàn thì ở bất cứ đâu cũng là Niết-bàn.

“Sử Dụng Tâm” - Niệm Tâm

1. "Sử Dụng Tâm"

(Hỏi) Bạch Thầy, Thầy giảng giúp con hiểu thêm về “Sử Dụng Tâm”. Con cảm ơn thầy ạ.

- Tâm vốn biết Pháp, bản chất của tâm (citta) là biết. Cho nên, những cụm từ "thận trọng, chú tâm, quan sát", "trở về, trọn vẹn, tỉnh thức", "trong lành, định tĩnh, sáng suốt", "rỗng rang, lặng lẽ, trong sáng", "tinh tấn, chánh niệm, tỉnh giác" hay "Giới Định Tuệ", "Bát Chánh Đạo"... đều chỉ nguyên lý sử dụng tâm. Tâm tự nó biết ứng ra khi gặp duyên. Nếu tâm tự ứng ra thì đúng, còn nếu mình sử dụng theo ý mình thì dễ bị rơi vào chủ quan của bản ngã.

VÌ ĐÂU NÊN NỖI

Con người ta sống trên đời thường tự chuốc lấy khổ đau, phiền não nhiều hơn gấp bội phần cái khổ không đáng phải khổ của một thân chúng sanh, ấy là vì vọng tâm chấp ngã, chấp pháp. Do vọng chấp có ngã, pháp, nghĩa là chấp thân tâm này và các pháp tướng tương quan, tương tác, tương sanh, tương diệt trong cảnh giới hữu hạn, luôn luôn biến dịch, đổi thay làm thật có nên người ta mới khởi tâm phân biệt ngã nhơn, bỉ thử, rồi thể hiện bằng hành động đấu tranh, giành giật, chiếm đoạt, trí trá, dối lừa, trốn tránh...không ngoài mục đích để thoả mãn bản ngã.

Mối Quan Hệ Đúng Tốt

(Hỏi) Thưa Thầy làm sao để có mối quan hệ mà không bị chi phối bởi sự đối đãi ạ. Để xây dựng một tình bạn mà không đem lại khổ đau cho nhau thì phải đối với nhau như thế nào?

- Trong cuộc sống đương nhiên phải có mối quan hệ. Thiên nhiên thường có sự tương giao tự nhiên, nhưng sống trong xã hội thì cần có mối quan hệ. Nói cách khác, trong Chân Đế mới có sự tương giao, còn trong Tục Đế khó tránh được mối quan hệ. Nguyên lý Đức Phật dạy là đã có quan hệ thì trong mối quan hệ cần phải đúng tốt mới không gây phiền luỵ cho nhau.

ĐÁNH THỨC VỊ PHẬT ĐANG NGỦ

....vấn đề quan trọng cần được hiểu-thấu. Tất cả những giáo lý Phật giáo luôn nhấn mạnh rằng mọi chúng sinh là: hoàn hảo trong bản chất tối thượng. Tiềm năng hoàn hảo này vẫn chưa được đánh thức và phát triển để đạt đến phẩm tính vĩ đại của quả vị Phật – hay là giác ngộ. Một chúng sinh chưa giác ngộ là vẫn trong vòng luân hồi, luôn tự huyễn hoặc mình, hay còn gọi bị trói buộc trong thế giới phàm tục. Còn những chúng sinh đã giác ngộ được biết như là các vị Phật. Từ Phật, nghĩa là con người đã tỉnh-thức hoàn toàn và phát triển trọn vẹn, một trạng thái giác-ngộ viên mãn. Khi thời điểm này đến, mọi nỗ lực sinh ra thành quả và cá nhân đó có sự tỉnh-thức trọn vẹn, khi đó là điểm đến cuối cùng – quả vị Phật đạt được.

BA BÀI KỆ CỦA LỤC TỔ HUỆ NĂNG

Bài này viết về ba bài kệ của Lục Tổ Huệ Năng: bài kệ Kiến Tánh, bài kệ Vô Tướng trong Phẩm thứ ba của Kinh Pháp Bảo Đàn, và bài kệ thị tịch (kệ làm trước giờ lâm chung gọi là kệ thị tịch).
Lục Tổ Huệ Năng (638-713) là vị tổ thứ sáu của Thiền Tông Trung Quốc. Một ngày nọ Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn ở chùa Đông Thiền huyện Hoàng Mai xứ Kỳ Châu bảo các đệ tử làm một bài kệ kiến giải chân tâm để chọn người truyền pháp và truyền y bát cho làm tổ đời thứ sáu. Nhân dịp này Thượng Tọa Thần Tú là vị giáo thọ dạy giáo pháp cho môn đồ trong chùa làm bài kệ sau đây:

Ngôn ngữ

Một phen buông hết ngôn từ
Buông luôn cả một chữ như trên đầu
Thong dong thực tại nhiệm mầu
Niết-bàn, Sinh tử… biển dâu khác gì! 


QUÁN NIỆM HƠI THỞ


HÃY THẤY CÁC PHÁP NHƯ NÓ ĐANG XẢY DIỄN

Trong đạo Phật, chúng ta hành thiền để thấy các pháp thật sự như nó đang xảy diễn. Đó là việc học và hiểu được bản chất của thế giới tự nhiên bằng cách chứng ngộ trực tiếp. Đó không phải là học và hiểu thế giới tự nhiên bằng những lý thuyết trong sách vở hay qua tư tưởng của một vị nào đó. Đó là quá trình xem xét và học hỏi trực tiếp -- bằng cách quan sát và lắng nghe. Trong các trường đại học, bạn làm rối rắm mọi việc bằng cách học đủ loại vấn đề, nhưng trong thiền định, bạn đơn giản mọi việc. Bạn chỉ quán sát mọi việc như nó đang xảy diễn.
Khi quán niệm hơi thở (anapanasati), bạn thấy hơi thở sinh rồi diệt, và hơi thở vào là điều kiện cho hơi thở ra. Nhưng không phải chỉ có thế thôi. Có sự "thấy biết" hơi thở; có tâm sở mà chúng ta gọi là tâm chánh niệm. Và chúng ta dùng "cái tâm thấy biết" hay tâm chánh niệm nầy để thấy biết những gì đang xảy ra -- tức là để thấy các pháp điều kiện và các pháp không điều kiện. Đây là con đường giúp chúng ta vượt qua và đi lên trên tất cả, con đường của sự tỉnh thức, chứ không phải con đường trốn tránh cuộc đời.

TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT & GIẢI-THOÁT TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT.

Một chỗ thấy biết vắng lặng, trong trẻo, bất động, vô ngại, vô biên hốt nhiên hiển hiện trước mắt người con Phật, đồng "một" thực tại phi thời gian, đã làm đảo lộn các chuẩn mực và mọi giá trị qui ước xưa cũ vốn có từ thuở lọt lòng của người ấy, đối với cuộc sống và cảnh giới này. Mặc dù các định chuẩn ấy, cũng là kinh nghiệm hiểu biết được tích lũy, phát triển và ăn sâu vào tận tim óc, máu thịt như một chùm giây mơ rễ má, mà một sát na trở về trước, tưởng chừng khó bề bứt tách ra khỏi óc não, nhưng chỉ sát na sau, nó vẫn phải bị loại trừ, bị tan biến, chí ít là ẩn hiện mờ nhạt trước một chỗ thấy biết tuyệt đối, tự tại, hiển nhiên, không đến không đi, nếu người ấy không động niệm phân biệt.

Sinh Tử qua Lăng Kính của Người Giác Ngộ

Hai chữ “Sinh Tử” đã khiến cho biết bao nhiêu người bất kể trí ngu giàu nghèo từ xưa đến nay đều phải lưu ý tới và khổ tâm vì nó. Người trí thì đối diện với nó và tìm cách để giải quyết nó để thoát khỏi nó một cách vĩnh viễn. Kẻ ngu thì sợ hải nó, trốn tránh nó và làm mọi cách để quên nó trong hiện tại một cách tạm thời. Người giàu không thể dùng tiền để mua lấy cái chiêu bài “miễn tử” mà người nghèo cũng không thể thoát khỏi sự chết. Bởi sanh già bệnh chết là bốn cái khổ chính chung của loài người và muôn loài chúng sanh. Vậy sinh tử là cái gì mà khiến cho bao nhiêu người phải để tâm đến? Phần đông con người quan niệm rằng sinh là sự hiện hữu của một cái thân hình tướng và tử là sự mất của cái thân hình tướng chính nó. Cũng có người cho rằng sinh tử là sự khởi niệm và diệt niệm nơi tâm trong từng sát-na. Tuy rằng thân và tâm đều sinh diệt theo định luật của vô thường vô ngã trong phạm vi tương đối, nhưng cái sinh diệt ấy là hư vọng của những người sống trong chiêm bao qua cái thấy của người giác ngộ đã vượt ngoài tương đối hay ở trong Bản Thể Tuyệt Đối. Nói một cách khác, đối với người Giác Ngộ thì thật không có sinh tử.

Con đường để đi đến giác ngộ

...Con đường để đi đến giác ngộ, không phải lúc nào cũng thênh thang rộng mở, sắc màu điểm tô, mà con đường đi đó, có những vấn đề của riêng nó, thăm thẳm xa, với bao gập ghềnh, gian khổ, từ nội tâm cho đến ngoại cảnh, từ bên trong lẫn bên ngoài. ...
....Trong sự tu tập, không có thuận duyên, chỉ có nghịch duyên, không có thuận cảnh, chỉ có nghịch cảnh, nhưng từ trong đó, từ trong nghịch cảnh mới có thuận duyên, từ trong nghịch duyên mới có thuận cảnh, từ trong khổ đau mới cần đến giải thoát. Khi nhận biết tinh tường, thấu rõ, thì thuận nghịch, khổ đau sẽ chuyển hóa, thành chất liệu, tương tác, vượt lên, hổ trợ cho nhau. Tu là đi trên con đường nghịch dòng, con đường gian nan vất vả, con đường khổ ải, con đường ít người dám vượt qua, bước tới, nhưng đó lại là con đường của người tu và muốn tu, nếu quyết lòng bền chí thì sẽ vượt qua đến đích. Con đường, cũng chính là con đường của không đường, và chỉ mỗi con đường của không đường đó, mới đủ năng lực nhiệm mầu đưa ta vượt thoát, bước vào cánh cửa không môn.