Trải nghiệm tuyệt vời nhất trong cuộc đời

...Cuộc đời vô cùng quý giá.Và cuộc đời cũng thật là ngắn ngủi.Chính vì vậy, tôi muốn làm những gì mình thực sự thích làm.
Tôi học cách yêu thích thiền tập. Sau khi tôi thực hành thiền trong nhiều năm, khoảng 8 năm, một ngày khi đang ngồi thiền trong phòng, ở ký túc xá trong trường đại học, tâm tôi rất bình yên và tĩnh lặng, thật yên, thật tĩnh, hoàn toàn tĩnh lặng. Khi đó tôi mới hiểu thế nào là tĩnh lặng.

ĐÔI NÉT VỀ THIỀN CÔNG-ÁN

... Công án là tinh ba cốt tuỷ của Thiền được vận dụng thành lời, thành hành động vượt thoát nhị nguyên nhơn quả, nên tự thân nó và công năng kỳ đặc của nó cũng không nằm ngoài bản chất thanh tịnh tuyệt đối, vô ngôn, "biết rõ ràng nói không thể tới" của Thiền học. Điều ấy có nghĩa, tuy nó cũng là ngôn ngữ, là hành động nhưng chúng ta không thể hiểu nó bằng tư duy, phân biệt hay suy lường, mà chỉ có thể thâm nhập nó, "biết" nó bằng trực giác. Thế nên những công án Thiền không phải là đối tượng để cho chúng ta có thể tiếp cận hay hiểu nó bằng cảm quan, tình thức, bằng học vấn, suy tư hoặc có thể mổ xẻ, lý giải bằng ngôn ngữ, văn tự theo cách hiểu thông thường. Nghĩa là những Thiền ngữ này, tức phương tiệnkhai thị của các Thiền-sư hoàn toàn chẳng giống như những bài toán, những luận đề hay là những lý thuyết khoa học mà con người có thể biện biệt, phân tích, luận bàn đúng sai phải trái, để rồi dẫn đến một kết luận tương đối hay cho ra một đáp án khả dĩ số đôngchấp nhận được. Bản chất và công năng của Công án Thiền hoàn toàn không phải như thế.

CƯ SĨ BÀNG LONG UẨN - Bàng Uẩn Ngữ Lục

"Bàng Uẩn ngữ lục"  đã được dịch thành cuốn " A Man of Zen - The Recorded Sayings of Layman P'ang". Sau đây là vài mẩu chuyện về cuộc đời của ông:

Ông có làm bài kệ:
"Có trai không cưới - Có gái không gả -
Cả nhà chung hội họp - Ðồng bàn lời vô sanh."
" Một hôm ngồi trong am, ông chợt nói:
Khó khó, mười tạ đầu mè trên cây vuốt.
Bà Uẩn đáp: Dễ dễ trên đầu trăm cỏ, ý Tổ sư.
Cô Linh Chiếu tiếp: Cũng chẳng khó, cũng chẳng dễ, đói đến thì ăn, mệt ngủ khò. "

Ngón tay chỉ mặt trăng

Cái sai có thể diễn đạt bằng ngôn ngữ nhưng cái đúng thì không. Đó là lý do tại sao Lão Tử đã nói rằng: Đạo khả đạo phi thường đạo. Bởi vì cái gì có thể nói ra hay đã được nói ra đều trở nên hư ngụy. Đạo không thể được nói ra. Đạo chỉ có thể hiện bày mà không thể được nói ra. Ngón tay chỉ mặt trăng -ngón tay không bảo rằng mặt trăng là cái gì, nó chỉ có thể chỉ cho thấy; nó chỉ hướng cái tầm nhìn của bạn về phía mặt trăng.

Khi lắng nghe tâm được buông xả

Có người đang nói và bạn lắng nghe. Chính cái hành động lắng nghe đó làm cho tâm bạn được buông xả. Khi bạn thấy một sự vật, ngay chính nhận thức của nhìn giải tỏa bạn khỏi sự vật. Chính sự nghe, chính sự nhìn vào thực thể tự nó có hiệu quả phi thường không cần đến sự cố gắng của suy nghĩ .
. . . Chúng ta thử xét một chuyện — thí dụ tham vọng. Chúng ta đã biết quá rõ về tham vọng, nó làm chuyện gì, hậu quả ra sao rồi. Một lòng dạ đầy tham vọng thì không bao giờ biết đến cái gì là cảm thông, thương xót, yêu đương. Một tâm hồn đầy tham vọng là một tâm hồn tàn nhẫn — hoặc thuộc về tinh thần, hay là đối với ngoại cảnh, hoặc trong nội tâm.

Xướng Họa: HỘI NGỘ


Xướng


Nhập cuộc trần là tàng ẩn chữ Thương
Giữa cõi bụi hội trầm hương bạn hữu

Khổ đau và Con đường Quán niệm

Kính bạch chư tăng,
Kính thưa quý vị thính giả cư sĩ,
Trong buổi nói chuyện này, tôi sẽ đặc biệt bàn về cái mà chúng ta vẫn gọi là sự đau khổ cùng với con đường quán niệm nó theo đúng tinh thần của pháp môn Tuệ Quán (Tứ Niệm Xứ), con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ và giải thoát. Chúng ta cũng biết đó, vấn đề cốt lõi của Tứ Niệm Xứ chính là nhìn ngắm sự đau khổ. Tôi nói như vậy vì đã có không ít người vẫn hiểu lầm rằng tu tập Tuệ Quán chỉ đơn giản là để tìm kiếm sự an lạc (mặc dù so với người không tu tập thì các hành giả Tứ Niệm Xứ vẫn thường an lạc hơn) và từ câu nói này của tôi chắc chắn sẽ dẫn đến một loạt các câu hỏi : Vì sao lại phải nhìn ngắm những đau khổ? Chúng có gì để nhìn ngắm? Và phải nhìn ngắm như thế nào mới đúng?
Như tôi vừa nói, vấn đề trước tiên mà chúng ta cần giải quyết chính là việc định nghĩa đau khổ là gì, có bao nhiêu thứ đau khổ và thế nào là con đường quán niệm đau khổ. Ở đây, cái gọi là khổ đau vẫn thường được phân tích thành bốn hoặc năm trường hợp :

KỆ DÂNG Y TU NỮ - TÌNH SỬ A TỲ ĐÀM


KỆ DÂNG Y TU NỮ

Từ muôn thuở, nữ nhi phận thứ
Phải cậy nhờ quân tử gửi thân
Nghĩ thương cho kiếp nữ nhân
Hồng nhan là phận, hồng quần là duyên
Không hiếm kiếp thuyền quyên bạc phận
Trao thân nhầm, lận đận nhất sinh
Người ta ai cũng như mình
Cớ sao nam trọng, nữ khinh là gì
Kịp đến ngày Đại Bi xuất thế
Nẻo Niết Bàn đâu kể nữ nam
Đầu tiên ni tổ Kiều Đàm

Thiền là cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất

Chứng kiến, tinh thần của thiền
Thiền là cuộc phiêu lưu, cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất mà tâm trí con người có thể trải qua. Thiền chỉ là có đấy, không làm gì cả: không hành động, không suy nghĩ, không xúc động. Bạn chỉ có đấy và đó là thích thú tuyệt đối. Thích thú này đến từ đâu trong khi bạn chẳng làm gì cả? Nó đến từ không đâu mà cũng là đến từ mọi nơi. Nó chẳng có nguyên nhân gì, vì sự tồn tại được tạo nên từ chất liệu gọi là vui vẻ.
Khi bạn không làm gì chút nào - về mặt thân thể, về mặt tâm trí, không ở mức độ nào - khi mọi hoạt động đã dừng và bạn đơn thuần có đấy, chỉ còn hiện hữu, đó chính là thiền. Bạn không thể thực hiện được nó, bạn không thể thực hành nó: bạn chỉ phải hiểu nó thôi.

Tám bài kệ chuyển hóa tâm của Geshe Langri Thangpa

I
Quyết tâm thành tựu
Sự hạnh phúc rộng lớn nhất cho tất cả sinh vật
Điều này còn hơn cả viên ngọc như ý
Tôi nguyện thường xuyên, liên tục thương yêu, quý mến hết thảy mọi chúng sinh.
II
Khi chung đụng với người khác
Tôi tự xem mình như là kẻ thấp hèn nhất trong mọi người
Và trong tận đáy lòng sâu thẳm của tôi
Luôn luôn trân trọng, kính quý những kẻ khác, coi họ như tối thượng.

VẠN PHÁP SINH DIỆT

Đức Phật dạy rằng nguồn gốc của tất cả khổ đau là vô minh. Đây là điều quan trọng khi chúng ta kiểm xét lại những gì mà ngài thực sự định nghĩa về “vô minh”. Hầu hết sự hiện hữu của con ngườ itrong vũ trụ biểu hiện đa dạng, tương ứng với con người chính là những thói quen, sự suy tư, cảm giác và ký ức của họ. Người ta không dành chút thời gian hoặc cơ hội để nhìn lại đời sống của chính mình, quan sát hoặc chú tâm đến muôn pháp khởi động.
Pháp là gì? Thân thể mà chúng ta đang có, những tri giác và cảm xúc, những tri giác của tâm, những khái niệm và ý thức xuyên qua những giác quan, đây là những nhân duyên. Một pháp là điều gì đó được thêm vào và hòa hợp, là những gì sinh và diệt; nó không tự tác tự sinh, không có mấu chốt cơ bản một cách chính xác.

Yêu Thương trong Mối quan hệ và Sự Tương Giao


THƯƠNG
(Thân tặng NT)

E- Mail gửi , cuối câu "Thương" xuất hiện
Một chữ thôi, cũng ấm áp cả lòng
Bao người "thương" tìm thấy đúng ước mong
Chân tình ấy, cúi đầu xin trân quý

BẤT NHỊ

...Thiền sư Đạo Nguyên nói, “Không cánh chim bay nào biết được giới hạn bầu trời, không chú cá nào đến được nơi tận cùng biển cả”. Chúng ta tồn tại trong vũ trụ vô hạn. Chúng sinh thì vô biên còn phiền não thì vô tận, nhưng chúng ta vẫn phải cố tinh tấn, giống như chim bay và cá lội vậy. Vì thế thiền sư Đạo Nguyên nói “Chim thì bay như chim, cá thì lội như cá”. Đó chính là Bồ-tát đạo, và đó cũng là cách mà chúng ta tu tập...
... Biết rằng cuộc đời ngắn ngủi, hưởng thụ nó mỗi ngày, khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, là đời sống của “sắc là sắc và Không là Không”. Khi đức Phật đến, bạn sẽ đón chào Ngài; khi ma đến, bạn sẽ đón chào nó.... 

VÔ VI

Giọng và tiếng cùng hoạ,
Trước và sau cùng theo
Vậy nên hiền nhân:
Dùng vô vi mà xử sự…


Đây là điều Lão Tử gọi là vô vi: hiền nhân xử trí mọi sự mà không hành động. Có các khả năng - một: trong hành động mà quên mất vô hành động. Bạn sẽ là người thế giới này. Khả năng thứ hai: vứt bỏ hành động, đi lên Himalayas và vẫn còn vô hành động. Bạn sẽ là người thế giới khác. Khả năng thứ ba: sống trong bãi chợ nhưng không cho phép chợ sống trong bạn. Hoạt động mà không trong trạng thái hoạt động, di chuyển nhưng vẫn còn bất động bên trong.

Làm thế nào để biết được pháp hành của mình là đúng hay sai?

Pháp hành tự nhiên

- Ngồi, đi, làm việc như đang ở nhà, sử dụng những oai nghi thông thường.
- Ngồi tự nhiên thường gồm nhiều oai nghi ngồi khác nhau, thay vì chỉ có đi, đứng, ngồi, nằm theo quy định. Thái độ bình thường là ngồi cách này, rồi thay cách khác (luôn luôn là để chữa khổ), và rồi lại thay cách khác, cuối cùng, khi không ngồi được nữa thì đứng hoặc đi.
- Ði cũng cần phải được thực hiện để chữa khổ. Nếu đi với ý định luyện tập thì nên tác ý lại là để chữa khổ. Ðối với một số hành giả, đi là một oai nghi được xem là dễ dẫn đến những động cơ khác hơn là chữa khổ. Ði cho thoải mái, đi theo cách nào đó để thấy được thực tánh, hoặc để kiểm soát phóng tâm, v.v...

Người trở lại một lần - Người không trở lại - A la hán

Giai đoạn thứ hai được gọi là người trở lại một lần, tức là Tư đà hàm (nhất lai), giai đoạn thứ ba là người không trở lại, tức là Anahàm (bất lai), và giai đoạn thứ tư là Alahán. Người chiến thắng dòng chảy (Tu đà hoàn) buông bỏ ba trói buộc. Thứ nhất là bản ngã, cá nhân, ý niệm về cái ta tách biệt. Một cách tự nhiên đó là toàn bộ nguyên nhân gốc rễ của đấu tranh. Thứ hai, là sống rập khuôn theo nguyên tắc, lễ nghi; có biết bao nhiêu người tôn giáo nhưng họ chỉ sống theo nguyên tắc và lễ nghi. Họ không biết gì về tôn giáo cả. Lễ nghi không phải là tôn giáo, nguyên tắc không phải là tôn giáo.

Người chiến thắng dòng chảy (Tu đà hoàn)

Phật nói về bốn giai đoạn của người tìm kiếm tâm linh. Giai đoạn thứ nhất ông ấy gọi là người chiến thắng dòng chảy, Tu đà hoàn hay nhập lưu (vào dòng). Người chiến thắng dòng chảy tức là người đã đi vào phật trường, người đã được khai tâm, người đã trở thành một sannyasin. Tại sao lại gọi là Người chiến thắng dòng chảy? - bởi vì người đó không còn đứng trên bờ nữa, người đó không còn tĩnh tại nữa; người đó bắt đầu xuôi theo dòng đời. Người đó không còn tranh đấu với dòng sông nữa. Bản ngã đã quen đấu tranh với dòng sông và bản ngã đã quen đi ngược dòng không còn đó nữa.

Biết ơn giây phút này


Trong đạo Phật tình thương là một năng lượng lớn, có thể ôm ấp và chuyển hóa được khổ đau.  Sự giác ngộ không làm cho đức Phật trở nên dững dưng bất động, không còn cảm xúc nữa, mà ngược lại, nó khiến tấm lòng của ngài trở nên rộng lớn hơn. Đạo Phật gọi đó là tâm từ, metta.
    Và tâm từ ấy cũng thường được biểu hiện bằng một thái độ biết ơn.
    Trong kinh có ghi lại rằng, sau khi thành đạo dưới cội bồ đề, đức Phật đã đứng yên một khoảng xa để chiêm bái cây bồ đề trong suốt một tuần. Phật bày tỏ lòng tri ân sâu xa của mình đối với cây bồ đề đã che chở nắng mưa cho ngài trong suốt thời gian tầm đạo.  Có lẽ bài pháp đầu tiên đức Phật dạy cho cuộc đời, là một bài học về lòng biết ơn.

NGHE MÀ KHÔNG NGHE

Có những tiếng những lời những âm thanh nghe hoài không chán, nghe mãi không quên, không nghe thì trông ngóng đợi chờ. Tiếng nói của người thương kẻ nhớ kẻ đợi người mong, âm thanh của những ngọt ngào êm dịu, lời ru miên man đưa ta về miền gợi nhớ, những yêu thương da diết chôn dấu trong từng góc khuất, những trăn trở buồn vui có dịp đi qua. Và còn nữa, những thứ mà lúc nào ta cũng trông mong, lời khen tán thưởng tiếng vỗ tay tung hô của thiên hạ.
Có những thứ tiếng chỉ nghe một lần là không muốn nghe, nhắm mắt bịt tai ngày chán đêm phiền. Âm thanh của những người ta ghét cay ghét đắng, những gì ta chẳng ưa chẳng thèm, chẳng muốn nhìn mặt, chẳng muốn nghe tên, những đắng cay ngậm ngùi nằm im trong sâu thẳm ta sợ động vào khuấy lên.

CÁC PHÁP DUYÊN SINH KHÔNG THẬT


Trong kinh A Hàm đức Phật có dạy, người nào thấy được lý nhân duyên thì người đó thấy được pháp. Thấy được pháp tức là thấy đạo hay thấy Phật. Qua đó chúng ta thấy tầm quan trọng của lý nhân duyên như thế nào. Cũng vậy, con người do nhân duyên sinh nên không chủ thể, không cố định.
Muôn vật trên thế gian này do nhân duyênsinh cũng không chủ thể, không cố định. Tuy không cố định, không chủ thể nhưng muôn sự muôn vật vẫn có, đủ duyên thì nó hiện tiền. Hiểu lý này rồi chúng ta mới hiểu chữ Không trong kinh Bát Nhã.

Cuộc đi về Nguồn

Tiếng Dharma hay Dhamma trong cả Sankrit và Pàli đều có nhiều nghĩa: Chân lý, thiên nhiên, giáo điều, qui phạm... Nói chung, nếu cần nó cũng hàm nghĩa ám chỉ cho vạn vật, vạn sự -- bất luận tâm lý hay sinh vật lý trong thế giới hiện tượng này. Nhưng bên cạnh đó, từ Dhamma còn có một nghĩa khác là Giáo lý mà mà nếu đọc thấy trong kinh Phật đôi khi ta cũng nên hiểu rằng đó chính là Phật Pháp. Vậy, gom hết tất cả các định nghĩa lại, ta sẽ hiểu được thuật ngữ "thực hành Giáo Pháp"một cách sâu rộng hơn, rằng đó là con đường thấu đáo từng phút giây vận động, tồn tại của tất cả cảm nghiệm và chính mình sống trọn vẹn với thực tại một cách hài hòa, bao dung hiểu theo mọi nghĩa.

Phổ khuyến tọa thiền nghi

Chân lý vận hành ở mọi nơi, vậy tại sao chúng ta phải tu tập mới được giác ngộ? Pháp chân thật đã tự nhiên có sẵn, vậy tại sao phải nỗ lực công phu? Lại nữa, gương sáng chẳng phải do nơi đài, vậy cần gì phải nhọc công lau chùi bụi bậm (1) ? Ta xưa nay chưa từng xa cách với chân lý, vậy tại sao phải đi tìm kiếm?

Kinh Hoa sen

Chuyện xảy ra có lần một người đi tới một Thiền sư. Ông ta đã đọc mọi kinh sách, ghi nhớ chúng, và đã trở thành một triết gia lớn vì ông ta rất hiệu quả trong việc dùng lời, logic. Và Thiền sư này chỉ là một dân làng, giống hệt như người ăn xin, người đã nói, "Tôi không bị lạc." Ông ấy chưa bao giờ đọc Kinh Hoa sen, một trong nhưng kinh sách Phật giáo vĩ đại nhất, đáng gìn giữ, bao giờ cũng được giữ ở gần. Cũng như có sách gối đầu giường, Kinh Hoa sen cũng vậy là cuốn sách cạnh trái tim; nó liên quan tới trái tim. Hoa sen là biểu tượng cho trái tim: nở hoa đầy đủ, trong việc bùng nở đầy đủ, nó là trái tim. Và các Phật tử nghĩ không có gì sánh được với Kinh Hoa sen.

Tạ ơn đời - Tình bạn, mối quan hệ và lòng từ bi


TẠ ƠN ĐỜI
(Thân Tặng NT & VH)

Hạnh phúc đến từ những điều nho nhỏ
Bạn đồng môn luôn thân thiết sẻ chia
Như ước giao tâm nguyện đến ngày kia
Cùng chung sức chèo trôi thuyền Bát Nhã