QUÁN NIỆM HƠI THỞ


HÃY THẤY CÁC PHÁP NHƯ NÓ ĐANG XẢY DIỄN

Trong đạo Phật, chúng ta hành thiền để thấy các pháp thật sự như nó đang xảy diễn. Đó là việc học và hiểu được bản chất của thế giới tự nhiên bằng cách chứng ngộ trực tiếp. Đó không phải là học và hiểu thế giới tự nhiên bằng những lý thuyết trong sách vở hay qua tư tưởng của một vị nào đó. Đó là quá trình xem xét và học hỏi trực tiếp -- bằng cách quan sát và lắng nghe. Trong các trường đại học, bạn làm rối rắm mọi việc bằng cách học đủ loại vấn đề, nhưng trong thiền định, bạn đơn giản mọi việc. Bạn chỉ quán sát mọi việc như nó đang xảy diễn.
Khi quán niệm hơi thở (anapanasati), bạn thấy hơi thở sinh rồi diệt, và hơi thở vào là điều kiện cho hơi thở ra. Nhưng không phải chỉ có thế thôi. Có sự "thấy biết" hơi thở; có tâm sở mà chúng ta gọi là tâm chánh niệm. Và chúng ta dùng "cái tâm thấy biết" hay tâm chánh niệm nầy để thấy biết những gì đang xảy ra -- tức là để thấy các pháp điều kiện và các pháp không điều kiện. Đây là con đường giúp chúng ta vượt qua và đi lên trên tất cả, con đường của sự tỉnh thức, chứ không phải con đường trốn tránh cuộc đời.

TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT & GIẢI-THOÁT TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT.

Một chỗ thấy biết vắng lặng, trong trẻo, bất động, vô ngại, vô biên hốt nhiên hiển hiện trước mắt người con Phật, đồng "một" thực tại phi thời gian, đã làm đảo lộn các chuẩn mực và mọi giá trị qui ước xưa cũ vốn có từ thuở lọt lòng của người ấy, đối với cuộc sống và cảnh giới này. Mặc dù các định chuẩn ấy, cũng là kinh nghiệm hiểu biết được tích lũy, phát triển và ăn sâu vào tận tim óc, máu thịt như một chùm giây mơ rễ má, mà một sát na trở về trước, tưởng chừng khó bề bứt tách ra khỏi óc não, nhưng chỉ sát na sau, nó vẫn phải bị loại trừ, bị tan biến, chí ít là ẩn hiện mờ nhạt trước một chỗ thấy biết tuyệt đối, tự tại, hiển nhiên, không đến không đi, nếu người ấy không động niệm phân biệt.

Sinh Tử qua Lăng Kính của Người Giác Ngộ

Hai chữ “Sinh Tử” đã khiến cho biết bao nhiêu người bất kể trí ngu giàu nghèo từ xưa đến nay đều phải lưu ý tới và khổ tâm vì nó. Người trí thì đối diện với nó và tìm cách để giải quyết nó để thoát khỏi nó một cách vĩnh viễn. Kẻ ngu thì sợ hải nó, trốn tránh nó và làm mọi cách để quên nó trong hiện tại một cách tạm thời. Người giàu không thể dùng tiền để mua lấy cái chiêu bài “miễn tử” mà người nghèo cũng không thể thoát khỏi sự chết. Bởi sanh già bệnh chết là bốn cái khổ chính chung của loài người và muôn loài chúng sanh. Vậy sinh tử là cái gì mà khiến cho bao nhiêu người phải để tâm đến? Phần đông con người quan niệm rằng sinh là sự hiện hữu của một cái thân hình tướng và tử là sự mất của cái thân hình tướng chính nó. Cũng có người cho rằng sinh tử là sự khởi niệm và diệt niệm nơi tâm trong từng sát-na. Tuy rằng thân và tâm đều sinh diệt theo định luật của vô thường vô ngã trong phạm vi tương đối, nhưng cái sinh diệt ấy là hư vọng của những người sống trong chiêm bao qua cái thấy của người giác ngộ đã vượt ngoài tương đối hay ở trong Bản Thể Tuyệt Đối. Nói một cách khác, đối với người Giác Ngộ thì thật không có sinh tử.

Con đường để đi đến giác ngộ

...Con đường để đi đến giác ngộ, không phải lúc nào cũng thênh thang rộng mở, sắc màu điểm tô, mà con đường đi đó, có những vấn đề của riêng nó, thăm thẳm xa, với bao gập ghềnh, gian khổ, từ nội tâm cho đến ngoại cảnh, từ bên trong lẫn bên ngoài. ...
....Trong sự tu tập, không có thuận duyên, chỉ có nghịch duyên, không có thuận cảnh, chỉ có nghịch cảnh, nhưng từ trong đó, từ trong nghịch cảnh mới có thuận duyên, từ trong nghịch duyên mới có thuận cảnh, từ trong khổ đau mới cần đến giải thoát. Khi nhận biết tinh tường, thấu rõ, thì thuận nghịch, khổ đau sẽ chuyển hóa, thành chất liệu, tương tác, vượt lên, hổ trợ cho nhau. Tu là đi trên con đường nghịch dòng, con đường gian nan vất vả, con đường khổ ải, con đường ít người dám vượt qua, bước tới, nhưng đó lại là con đường của người tu và muốn tu, nếu quyết lòng bền chí thì sẽ vượt qua đến đích. Con đường, cũng chính là con đường của không đường, và chỉ mỗi con đường của không đường đó, mới đủ năng lực nhiệm mầu đưa ta vượt thoát, bước vào cánh cửa không môn.

Vẻ đẹp cái chết như một phần cuộc sống - Sống, chết, và Tồn tại

Chết phải là cái gì đó lạ thường, giống như sống. Đau khổ, phiền muộn, buồn bã, vui vẻ, những ý tưởng vô lý, sở hữu, ganh ghét, thương yêu, sự hành hạ dày vò của cô độc – tất cả việc đó là sống. Và muốn hiểu rõ chết, chúng ta phải hiểu rõ tổng thể của sống, không chỉ nhận một mảnh của nó rồi sống cùng mảnh đó, như hầu hết chúng ta đều làm. Ngay lúc hiểu rõ sống có hiểu rõ chết, bởi vì sống và chết không tách lìa. 

Khiêm cung

Một lúc nào đó, biết ngồi lại để thấm thía tinh thần uyên áo mà giản dị của Phật pháp, chúng ta có thể sẽ thấy được ý nghĩa quan trọng tuyệt vời của cái gọi là cách đối nhân xử thế hay nói gọn hơn, là phép sống ở đời. Ở đây chúng ta sẽ có được những kinh nghiệm quý giá về quy luật đối xứng trong từng hành động, ngôn ngữ và cả ý nghĩa của mình nữa. Mọi sự luôn để lại một hiệu quả thích đáng. Tôi đặc biệt nhấn mạnh và có hứng thú trong đề tài này vì qua chính nó, ta sẽ có rất nhiều vấn đề để nói. Cái tuyệt vời của phép sống mà tôi sắp nói tới không phải chỉ được quan tâm vì nó đã được nói tới nhiều trên các trang sách mà hơn thế nữa, nó là một thứ kinh nghiệm tâm linh tự chứng hết sức đặc thù đòi hỏi một công phu trau luyện của bản thân.

Tất cả những gì bạn cần là sự tỉnh thức với tâm từ ái "All You Need Is Kindfulness"

“Kindfulness” là danh từ mới do Ajahn Brahm đặt ra để chỉ “mindful” nghĩa là “sati”, tỉnh thức (hay thường được gọi là chánh niệm) với “kindness”- tâm từ ái. Ajahn luôn luôn nhấn mạnh rằng chỉ chánh niệm không thôi chưa đủ mà chúng ta cần phải thêm vào đó cái "nguyên tố kỳ diệu của tâm từ ái". 

Nghệ thuật lắng nghe - Quan sát chính mình

Nghe trong tĩnh lặng
Này bạn, có bao giờ bạn ngồi thật yên lặng, không chú ý tới bất cứ điều gì, không cố gắng tập trung tư tưởng, mà chỉ ngồi với một trí não hết sức tĩnh lặng, thật sự tịch tịnh? Bấy giờ bạn mới nghe tất cả phải không? Bạn nghe những âm thanh từ xa, rồi gần hơn và thật gần ngay cạnh bạn – có nghĩa là bạn đang nghe tất cả. Trí não không bị hạn chế phải nghe từ duy nhât một kênh nông cạn hẹp hòi nào cả. Nếu bạn có thể nghe như thế, nghe trong tĩnh lặng, trong tự do giải thoát, không căng thẳng, bạn sẽ thấy nội tâm thay đổi một cách kỳ diệu – một đổi thay ngoài sự mong muốn hay yêu cầu của bạn, và trong cuộc đổi thay đó có cái đẹp vô cùng và tuệ giác sâu thẳm.

Tiêu chuẩn của bậc Thánh

 ...Giáo pháp không phải là cái gì đó mà ta muốn là có thể đạt được. Tâm của bạn có thể đang ở lối này nhưng chân lý, sự thật lại ở một lối khác. Bạn phải quán sát phía trước và còn phải thận trọng mặt sau nữa. Đó là nguyên nhân tại sao tôi nói: “Không có gì chắc chắn, bền vững, tất cả đều phù du, thay đổi cả”.
Sự thật về nguyên lý không bền vững này rất bình thường dễ hiểu, và cũng rất thâm trầm, toàn hảo, song người ta lại lãng quên. Họ chú ý quan sát những thứ khác. Đừng tham chấp vào cái tốt, cái thiện, cũng đừng chấp chặt cái xấu cái ác. Chúng chỉ là thuộc tính tượng trưng trong thế giới này. Chúng ta đang thực tập viễn ly khỏi thế giới nên chấm dứt, đừng cưu mang những thứ này nữa. Đức Thế Tôn dạy chúng ta hãy đặt chúng xuống, bỏ chúng đi, bởi vì chúng là nguồn gốc mọi sự đau buồn khổ não...

Cội nguồn trí tuệ

Tất cả chúng ta tịnh hoá thân tâm trở thành những Tỳ-kheo, Sa-di[47] trong Tăng đoàn Phật giáo với mục đích chứng đạt được sự bình an. Vậy bình an thật sự là gì? Đức Thế Tôn bảo “bình an thật sự” không cách xa, nó đang ở bên trong chúng ta, nhưng chúng ta thường không nhận ra nó. Người ta có nhiều quan điểm riêng trong việc đi tìm bình an nhưng họ vẫn còn đầy dẫy hoài nghi, dao động, vẫn không chắc chắn nên chưa xây dựng nền móng vững chắc trong việc thực tập. Họ không thể nào đạt đến mục tiêu. Như thể chúng ta rời nhà, đi du lịch đến nhiều nơi khác nhau. Dù đang ngồi trong xe, trên tàu thuyền, không quan trọng ta đi nơi đâu, chỉ biết là chúng ta vẫn chưa phải là đã về đến nhà. Hễ khi nào chưa về đến nhà, chúng ta vẫn chưa cảm thấy thoải mái dễ chịu, chúng ta vẫn có việc chưa hoàn tất, còn có việc cần phải quan tâm đến. Đấy là bởi vì hành trình của chúng ta chưa hoàn tất, chưa đến nơi theo dự định. Chúng ta viếng thăm nhiều nơi để tìm sự giải thoát.

Tứ Vô Lượng Tâm

Trong mỗi chúng ta có bốn người bạn tốt (tứ vô lượng tâm), sẳn sàng giúp đỡ ta. Tuy nhiên cạnh đó ta cũng có năm kẻ thù chực chờ nhảy ra tấn công bất cứ lúc nào. Chúng không bao giờ để ta yên. Nhưng vấn đề là có mấy ai trong chúng ta đủ sức mạnh để đánh đuổi kẻ thù, bảo vệ cho những người bạn tốt của mình. Lại có người còn không biết rằng đó là việc tốt, nên làm.
Bốn người bạn đó là bốn tánh tốt của ta: Từ, Bi, Hỉ và xả. Ta phải tìm kiếm chúng trong tim mình. Nếu không thể tìm ra, và tự biết đó là một thiếu sót của mình, ta phải bắt đầu lo tạo ra chúng, phát triển chúng.

Ai thấy được sự hoàn hảo trong bất toàn là người giác ngộ.

1. Vị lãnh Đạo ưu việt

(Hỏi) Trong một Quốc gia những người leader (lãnh đạo) không có trình độ sẽ ảnh hưởng không tốt cho người dân phải không thưa Thầy?


Thầy đã nói sinh ra trên đời là để học bài học giác ngộ ra chính mình và bản chất cuộc sống. Nhưng mỗi người sinh ra đều có Chánh Báo và Y Báo của mình. Chánh Báo là quả báo ngay trên thân tâm mỗi người, còn Y Báo là nơi chốn (gia đình, xã hội) họ sinh ra.

Tại sao chúng ta sinh ra ở Việt Nam mà không sinh ra ở Pháp

Cách hiểu và hành lời Phật dạy


1. Lời dạy của đức Phật

(Hỏi) Thưa Thầy trong Kinh Pháp Cú phẩm Ngu, đức Phật có dạy:
"Tìm không được bạn đường,
Hơn mình hay bằng mình,
Thà quyết sống một mình,
Không bè bạn kẻ ngu
."
Nếu vậy chỉ tìm bạn giỏi để chơi mà bỏ mặc những người kém hơn mình xung quanh thì có đúng không thưa Thầy?

CHÁNH NIỆM VÀ THIỀN

Thiền, theo cách tôi hiểu về nó, thì không phải là để tạo ra một cái gì cả (dù đó là sự tĩnh lặng, định tâm hay tuệ giác, hay bất cứ một cái gì khác)[6]. Mà thiền là để thấy rõ bất cứ những gì đang diễn ra trong hiện tại theo một cách nhìn rất đơn giản. Đặt mục tiêu là sự tĩnh lặng, hay cố gắng tạo ra sự tĩnh lặng hoặc tuệ giác là bạn đang cố bắt đầu đi từ nơi mà chúng ta sẽ đến. Do đó chúng ta sẽ luôn tụt lại chỗ đang đứng, bởi vì chúng ta không bắt đầu đi từ nơi mà chúng ta đang đứng. Một cách diễn tả khác nữa là: thiền là sự tiếp xúc, kết nối và thấu hiểu nội tâm hoàn toàn; hiểu biết về cuộc sống (những vấn đề của cuộc sống) một cách sâu sắc chính là thiền.

Phải chăng cuộc đời đã lập trình sẵn? - Đạo có phải là con đường?

1. Phải chăng cuộc đời đã lập trình sẵn?

(Hỏi) Thưa Thầy phải chăng cuộc đời đã lập trình sẵn?

Cuộc đời không phải đã được lập trình sẵn nhưng nó giống như một bàn cờ mà thành hay bại, khổ hay vui... là do quyết định của người trong cuộc đi quân cờ nào, chọn nước cờ nào, với mục đích gì... (có nhiều quân cờ, nước cờ và mục đích để mỗi người tự do lựa chọn) tuỳ theo khả năng hay trình độ nhận thức và cách xử lý trong ván cờ của mình.

Nghi Hoặc trong 5 Triền Cái & Hoài Nghi trong 10 Kiết Sử

1. Trong 5 triền cái, nghi hoặc thuộc bất thiện, và trong 10 kiết sử, hoài nghi cũng thuộc bất thiện, nhưng khi dạy cho người xứ Kalama đức Phật khuyên đừng vội tin, như vậy có vẻ như cần phải nghi mới tốt. Vậy 2 loại nghi này khác nhau thế nào?

Thật ra, chưa thấy biết rõ tất nhiên phải nghi ngờ, tức chưa vội tin, nghi này mang tính cẩn thận, dè dặt là cái nghi tốt, người học Đạo nên có cái nghi của sự thận trọng này.

KỆ TIỂU SỬ PHẬT

Kính lạy Phật: Toàn Tri Diệu Giác
Đấng trượng phu giải thoát trong đời
Đoạn căn sinh tử luân hồi
Bậc thầy vô thượng trời, người nhờ nương.

Kính lạy Pháp: Dược Vương Tôn Bảo
Bệnh trầm kha, phiền não chúng sanh
Lương phương diệt tận vô minh
Ba tòa tạng báu, uy linh hằng thường.

Kính lạy Tăng: Người đương Chí Cả
Bậc thừa hành giáo hoá nhân quần
Một lòng xả phú cầu bần
Xả thân cầu đạo, giới tâm trọn lành.

Giá Trị Hạnh Phúc Qua Đại Kinh Ví Dụ Lõi Cây

Từ khi còn là một Thái tử cho đến khi thành tựu đạo Vô thượng Bồ đề, đức Phật đã trải qua đủ mọi lạc thú ở thế gian, kể cả những lạc thú cao cấp trong Thiền định như Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Nhưng tất cả những lạc thú đó cuối cùng để lại cho Ngài một ưu tư lớn về tính chất vô thường, và không thể nào tìm thấy hạnh phúc chân thật trong các lạc thú đó. Và thật sự có một hạnh phúc chân thật không bị quy luật vô thường chi phối được, Ngài tìm thấy ngay sau khi giác ngộ, đó là Giải thoát bất động. Nhờ kinh nghiệm tự thân và kinh nghiệm chứng ngộ ấy, đức Phật đã trình bày năm hạng người điển hình đang tìm cầu hạnh phúc qua “Đại kinh Ví dụ lõi cây”.

Xử lý cơ thể sau khi chết

1. Hôm trước Thầy nói về Xá lợi của người thường và Thánh. Nếu ý nghĩa không lớn như vậy việc lưu giữ có ý gì không? Ngay cả nhục thể của những vị cao tăng ?

Giữ xá lợi và tro cốt tùy quan niệm của mỗi nơi. ví dụ người theo đạo Hindu Ấn độ tin rằng để linh hồn người chết được lên thiên đàng, do đó người thân đưa xác đến bên sông Hằng và tiến hành nghi lễ hoả táng.

Hiến xác có phải Bố thí Ba-la-mật?


1. Hiến xác có phải Bố thí Ba-la-mật? Có người nói hiến như vậy khi chết rồi tâm thức thấy thân mình bị mổ xẻ sinh ra đau khổ, sợ hãi, có đúng không?

- Cứ bố thí thì bố thí, đừng nghĩ là Ba-la-mật hay không Ba-la-mật gì cả. Mục đích bố thí là để vượt qua cái ngã xan tham ích kỷ, vượt qua bản ngã chính là Ba-la-mật. Vì xan tham ích kỷ chỉ củng cố cho cái ngã sở hữu nên càng tích luỹ nhiều càng đau khổ nhiều vì vậy bố thí để bớt xan tham ích kỷ chính là vượt qua chính mình. Nói chung có tâm hiến xác sau khi chết là tốt rồi. Thường người phát tâm hiến xác là người có trình độ nhận thức tốt về sự sống chết.

Không đích đến

Bởi mỗi khoảnh khắc, là đây. Đó có thể là sự sống, có thể là cái chết, có thể thành công, cũng có thể là thất bại, có thể hạnh phúc lại cũng có thể là bất hạnh. Mỗi khoảnh khắc… đều là đây.

TỈNH THỨC VÀ HIỂU BIẾT

Trong bài kinh Kalama nổi tiếng, thường được nhắc đến, Đức Phật đã đề ra mười điều mà ta không nên dựa vào để chọn người thầy hay để đi theo con đường tâm-linh nào đó. Tất cả đều có liên quan đến một hệ thống niềm-tin dựa vào truyền thống hay vào các cổ thư. Không tin, nhưng ta phải tự tìm ra sự-thật là điều Đức Phật thường nhấn mạnh. Nếu không làm thế, ta sẽ khó có được cái thấy nội-tại, là bước đầu tiên đưa ta đến con đường đạo.

Thập mục ngưu đồ - Vị ngọt và sự nguy hại


1. Thập mục ngưu đồ

(Hỏi) Thập mục ngưu đồ, có trong kinh điển Nguyên Thủy không?Xin Thầy giảng dạy Thập mục ngưu đồ liên hệ trong tu tập.


- Thập mục ngưu đồ là để diễn tả tiến trình tu tập theo Thiền Tông. Có 2 loại Thập mục ngưu đồ: Thập mục ngưu đồ của Thiền Tông và Thập mục ngưu đồ của Đại Thừa.
Bên Nguyên Thủy không có Thập mục ngưu đồ. Thập mục ngưu đồ đại khái ví việc tu tập như việc chăn trâu qua quá trình như sau:



Tiếng Vọng Từ Chân Tâm



Ngài Ðại Ðức Acharn Mun dạy rằng tâm của tất cả mọi người đều có ngôn ngữ giống nhau. Dầu ta nói tiếng gì, dầu ta là người thuộc dân tộc nào, tâm chỉ là sự hay biết (lời người dịch: chữ tâm được phiên dịch từ phạn ngữ "citta". Bản Chú giải định nghĩa là cái gì hay biết một đối tượng). Vì lẽ ấy Ngài nói rằng tất cả tâm đều có ngôn ngữ giống nhau. Khi một ý nghĩ phát sanh, chúng ta hiểu nó, nhưng khi chúng ta diễn đạt ra thành lời, nó trở thành ngôn ngữ này hay ngôn ngữ nọ. Do đó chúng ta không thật sự thông hiểu lẫn nhau. Mặc dầu vậy, những cảm giác sâu kín trong lòng mỗi người đều như nhau.

“Tọa Vong” trong học thuyết của Trang Tử - An trú Tánh Không


1. “Tọa Vong” trong học thuyết của Trang Tử

(Hỏi): Trong Thiên Đại Tông Sư của Trang Tử Nam Hoa Kinh có nói: Giải thể, bỏ thông minh, lìa hình, bỏ trí, đồng với Đạo lớn, đó gọi là "tọa vong” (ngồi quên tất cả) có phải như thế nghe có vẻ trái với chánh niệm tỉnh giác?

- “Tọa Vong” như thế nếu hiểu đúng nghĩa theo đạo Phật thì gọi là "an trú Tánh Không" mà đức Phật đã dạy.